Trong giai điệu của ông, ta cảm thấy có tiếng lá rơi nhè nhẹ, có tiết heo may se lạnh, có cả mùi thơm của cốm ủ lá sen. Nghe giai điệu của ông, ta cảm thấy bâng khuâng, yêu thương, luyến tiếc. Hơn nữa, còn thấy phảng phất ở giai điệu ấy hình bóng huyền diệu của những “tuyệt sắc giai nhân” đã hơn một lần làm xao xuyến trái tim “chàng công tử Hà Nội” dịu dàng và đa tình này
Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001) là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam. Trong sự nghiệp âm nhạc, ông đã sáng tác trên 600 tác phẩm, phần lớn là tình ca.
Đỗ Nhuận (1922 - 1991) là một nhạc sĩ Việt Nam. Ông là Tổng thư ký đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam khóa I và II từ 1958 đến 1983, một trong những nhạc sĩ tiên phong của âm nhạc cách mạng. Đỗ Nhuận còn là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết opera với vở Cô Sao, cũng là tác giả của bản Du kích Sông Thao nổi tiếng.
Tổng Hội Sinh Viên là một nhóm nhạc thời kỳ tiền chiến, được thành lập bởi nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Cùng với nhóm Đồng Vọng, Tổng Hội Sinh Viên mở ra dòng nhạc hùng trong tân nhạc Việt Nam. Nhưng so với Đồng Vọng thì Tổng Hội Sinh Viên manh tính chính trị nhiều hơn.
Nhóm Đồng Vọng là nhóm nhạc được thành lập năm 1939 bởi nhạc sĩ Hoàng Quý. Ngay từ những năm đầu nhóm Đồng Vọng mở ra dòng nhạc hùng trong tân nhạc Việt Nam.
Myosotis có nghĩa là hoa lưu ly, nhóm nhạc này gồm các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Phạm Văn Nhượng, Trần Dư, Vũ Khánh... trong đó hai thành viên quan trọng nhất là Thẩm Oánh và Dương Thiệu Tước. Năm 1938 khi tân nhạc Việt Nam hình thành sau những buổi trình diễn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên, nhiều nhóm nhạc ở miền Bắc cùng tung ra các ca khúc của mình. Trong số đó đáng kể hơn cả là Myosotis và nhóm Tricéa.
Nguyễn Xuân Khoát (1910–1993) là một nhạc sĩ và là Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông được coi là Người anh cả, là Cánh chim đầu đàn của nền âm nhạc mới Việt Nam [1].
Đoàn Chuẩn (15 tháng 6, 1924 – 15 tháng 11, 2001) là một nghệ sĩ biểu diễn lục huyền cầm Hạ Uy Di, song được biết đến nhiều hơn cả như một nhạc sĩ Việt Nam với số lượng sáng tác ít ỏi nhưng đều trở thành những giai điệu thuộc nằm lòng của nhiều thế hệ.
Lê Thương (1914–1996) là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất cho thời kỳ tiền chiến của tân nhạc Việt Nam. Ông là tác giả của bộ ba ca khúc Hòn vọng phu bất hủ.
Văn Cao (15 tháng 11, 1923 – 10 tháng 7, 1995) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng. Ông là tác giả của Tiến quân ca, quốc ca của Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những gương mặt quan trọng nhất của tân nhạc. Văn Cao còn là một họa sĩ, nhà thơ với nhiều tác phẩm giá trị.
Đặng Thế Phong (1918 – 1942) là nhạc sĩ thuộc thế hệ tiên phong của tân nhạc Việt Nam, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho giai đoạn âm nhạc tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi và chỉ để lại ba nhạc phẩm: Đêm thu, Con thuyền không bến và Giọt mưa thu.
Nhắc đến Ánh Tuyết là người ta nhớ ngay đến hình ảnh một bà hoàng nhạc tiền chiến chuyên trị áo dài, đồng thời là bà chủ của một trong những phòng trà lớn nhất nhì TP.HCM. Song có trò chuyện với chị, mới thấy ẩn trong vóc dáng bé nhỏ là một ngọn lửa đam mê luôn rực cháy và chẳng trở ngại nào có thể dập tắt...
Ánh Tuyết là một nghệ sĩ đã tạo được phong thái và con đường riêng trong âm nhạc, khi nhìn chị đắm chìm trong những ca khúc nhạc xưa với tà áo dài e ấp, ít ai nghĩ ngoài đời Ánh Tuyết là một phụ nữ năng động trong kinh doanh cũng như luôn nhiệt huyết trong cuộc sống.
Đã 8 năm ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ra đi nhưng mỗi lần nhớ đến ông là Ánh Tuyết lại rơi nước mắt. Một cảm giác day dứt, ân hận khôn nguôi. Với ông, chị vẫn còn mang nặng một món nợ ân tình.
Tôi nhìn thấy nước mắt Ánh Tuyết rớt thánh thót trong đêm nhạc Trịnh tại Hà Nội, khi chị hát "Đường xa vạn dặm", trong khán phòng vắng đến lạnh người. Mà chị khóc vì bài hát buồn, chứ không phải vì ế khách mà khóc.
Sự kiện ca khúc Thiên thần trong truyện tranh có lẽ đã không ồn ào đến vậy nếu như không có ý kiến của tác giả Lenka. Nhiều tác phẩm nhạc ngoại lời Việt hiện có trên thị trường có lẽ cũng không bị công chúng phản ứng quá gay gắt nếu đảm bảo được chất lượng.
Tối 1.1, trước khá đông khán giả có mặt tại Phòng trà ca nhạc Feeling (số 11D, đường Tăng Bạt Hổ, Quy Nhơn), ca sĩ Cao Minh (TP. Hồ Chí Minh) say sưa hát, bằng cả tâm hồn và cảm xúc. Ba bài rồi bốn bài, năm bài, Cao Minh còn muốn hát nữa để đáp lại những tràng pháo tay giòn giã từ khán giả. Những ca khúc tiếp sau, anh hát “mộc”, không nhạc đệm, không micro.
Nhìn cơ ngơi khu du lịch sinh thái rộng hơn 20 hécta của Cao Minh, người ta nghĩ “ông” ca sĩ của làng nhạc opera Việt Nam này chắc giàu phải biết, đầu tư tiền tỉ vào đây. Còn Cao Minh cười ngất, giàu gì, tiền tỉ ở đâu ra?
Nghe hát phòng trà đã thực sự trở thành xu hướng và thói quen của không ít các khán thính giả yêu thích âm nhạc.Bởi ở đó có sự hội tụ của những ca sĩ tài năng muốn khẳng định vị trí của mìnhtrong lòng thính giả.. một" thị trường"âm nhạc lặng lẽ, nhưng lại đáp ứng được vốn tri thức âm nhạc hiện nay..
Phòng trà ca nhạc là một hình thức biểu diễn và thưởng thức âm nhạc tại các phòng trà, các khán giả tới phòng trà để nghe ca sĩ hát. Phòng trà ca nhạc xuất hiện đầu tiên ở Hà Nội sau khi tân nhạc xuất hiện. Nó thay thế cho các quán cô đầu, nơi thưởng thức hát ả đào trước đó.
Khái niệm phòng trà không còn xa lạ với những ai yêu nhạc tại Việt Nam nói chung và đất Sài thành nói riêng. Người ta yêu nhạc người ta đến phòng trà. Muốn gặp ca sĩ thì đến phòng trà. Muốn nghe nhạc live còn đâu bằng phòng trà. Ngày nay phòng trà là nơi không thể thiếu trong thế giới âm nhạc Việt Nam. Thời gian gần đây, phòng trà đang có những bước chuyển mình…
Địa chỉ:
11 D Tăng Bạt Hổ, TP Quy Nhơn, Bình Định.
Điện thoại: (056) - 3812367 - 3601699
Fax: (056) - 3811925
Sản phẩm quan tâm
Thống kê
Online: 14
Total: 196.981
Bản quyền Feeling Group - Doanh nghiệp tư nhân Thái Hồng Phát. Địa chỉ: 11 D Tăng Bạt Hổ, TP Quy Nhơn, Bình Định.
Điện thoại: (056) - 3812367 - 3601699 - 2211022. Thiết kế bởi Hura Corporation