Phòng trà ca nhạc đầu tiên là Quán Nghệ Sĩ, mở ở đường Bờ Hồ, Hà Nội
năm 1946. Đây là nơi gặp gỡ của nhiều nhạc sĩ khi đó như Nguyễn Xuân
Khoát, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh... Không chỉ tân nhạc, phòng trà này
còn trình diễn cả các nhạc phẩm cổ điển. Sau Quán Nghệ Sĩ, một số phòng
trà khác cũng được mở: Thăng Long ở phố Hàng Bông, Tuyết Sơn ở phố Thợ
Nhuộm, Thiên Thai ở phố Hàng Gai...
Trong hồi ký của mình, Phạm Duy viết:
"Quán Nghệ
Sĩ ở đường Bờ Hồ, do tay violonist số một là Nguyễn Văn Giệp điều
khiển. Có nam ca sĩ Mai Khanh thường tới hát bài Bên hồ liễu. Nữ ca sĩ
Bùi Thị Thái, người vợ tương lai của ông Quản Liên, trưởng ban Quân
nhạc Lính Khố Xanh thì chuyên hát bài Con chim lạc bạn. Thỉnh thoảng có
Dương Thiệu Tước tới đánh guitare hawaienne và có Thẩm Oánh tới để làm
xướng ngôn viên.
Ở phố Hàng Bông, có phòng trà Thăng Long với các nhạc sĩ
Đỗ Thế Phiệt, Nguyễn Khắc Cung, Lương Ngọc Châu, Vũ Anh Thường. Tại phố
Hàng Bông Thợ Nhuộm, có phòng trà Tuyết Sơn với Vũ Thành thổi sáo.
Trong đám nam ca sĩ lúc đó, tôi cho rằng Kim Tiêu là người hát hay
nhất. Trong khi tôi còn vác bài Buồn tàn thu đi lưu diễn ở trong Nam
thì ở Hà Nội, chính nhờ ở giọng hát của Kim Tiêu mà những bài Thiên
Thai, Trương Chi của Văn Cao được nổi tiếng.
Một thằng bạn của tôi tên là Đặng Trần Vận mở ra ở phố
Hàng Gai một phòng trà lấy tên là Thiên Thai, cái tên được đặt ra như
vậy là vì tất cả dân chúng lúc đó đang ở trong tầm ảnh hưởng của bài
hát rất trữ tình của Văn Cao."
Tiếp đó, tại Huế cũng xuất hiện một số phòng trà, nổi tiếng hơn cả là
Tam Tinh với giọng ca Ngọc Cẩm. Chiến tranh Việt-Pháp nổ ra, các phòng
trà ca nhạc đều đóng cửa.
Miền Nam 1954-1975
Năm 1954, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ miền Bắc tới
Sài Gòn định cư. Nền tân nhạc ở miền Nam thời kỳ này đa dạng với nhiều
dòng nhạc dành cho nhiều tầng lớp khán giả. Thị trường âm nhạc sôi động
cùng những ca sĩ nổi tiếng giúp các phòng trà bước vào thời kỳ hoàng
kim. Tới phòng trà nghe nhạc là một nét văn hóa của Sài Gòn khi đó.
Những phòng trà được mở ra khắp nơi. Có thể kể tới một số như Văn Cảnh
trên đường Calmete, Đức Quỳnh đướng Cao Thắng, Anh Vũ đường Bùi Viện...
Đến khi chính phủ tổng thống Ngô Đình Diệm cấm khiêu vũ thì một số vũ
trường cũng biến thành phòng trà như Tự Do, Baccara... Thời kỳ đó, Sài
Gòn có 5 phòng trà nổi danh nhất là Queen Bee, Tự Do, Ritz, Maxim's,
Đêm Màu Hồng với các ban nhạc tên tuổi và các giọng ca ngôi sao.
Phòng trà Đêm Màu Hồng với ban Thang Long, ban nhạc gia đình
gồm Thái Thanh, Hoài Bắc (tức Phạm Đình Chương), Hoài Trung, Thái Hằng.
Tên phòng trà cũng được đặt theo tên một ca khúc của Phạm Đình Chương.
Queen Bee, Tự Do, Maxim's nổi tiếng với các giọng ca của Khánh Ly, Lệ
Thu. Ritz có ban nhạc The Dreams với ca sĩ Julie Quang, ông chủ phòng
trà Jo Marcel cũng là một ca sĩ. Về sau Khánh Ly cũng mở một phòng trà
mang tên mình.
Một loại phòng trà ca nhạc khác nữa là phòng trà sinh viên.
Trong khi các phòng trà nổi tiếng là nơi dành các khán giả cao cấp thì
phòng trà sinh viên do sinh viên mở ra và để dành cho chính họ. Trong
số đó có Quán Văn với Khánh Ly và Trịnh Công Sơn thời kỳ đầu sự nghiệp.
Những nhạc công biểu diễn ở phòng trà cũng có các nhạc sĩ nổi
tiếng, như Nguyễn Ánh 9 thường đệm dương cầm cho các ca sĩ Khánh Ly,
Thái Thanh. Cũng có một vài giọng ca hàng đầu của Sài Gòn khi đó như
Duy Trác, Sĩ Phú hầu như không xuất hiện ở phòng trà. Ngoài Sài Gòn,
còn có những phòng trà ở Đà Lạt và một số thành phố khác.
Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, các phòng trà của Sài Gòn đều đóng cửa.
Sau 1975
Sau một thời gian gián đoạn, tại Thành phố Hồ Chí
Minh, một số phòng trà được mở cửa trở lại. Thời gian đầu, các phòng
trà vẫn mang tính chất sang trọng, giá đồ uống cao và trình diễn những
bản nhạc giá trị. Trong số đó nổi danh hơn cả là M&Tôi và Tiếng Tơ
Đồng.
Khoảng cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000, thị hiếu âm
nhạc trở nên đa dạng, các phòng trà cũng thay đổi theo. Để đáp ứng
những khán giả thanh niên, các phòng trà mời các ca sĩ trẻ với những ca
khúc đang thịnh hành. Những hiện tượng như hát nhép môi cũng làm chất
lượng âm nhạc các phòng trà giảm xuống. Tiếng Tơ Đồng còn tổ chức các
đêm Người đẹp hát, Diễn viên hát... M&Tôi có chương trình Vui, trẻ
khỏe và thứ hai mỗi tuần. Sự xuất hiện những sân khấu ca nhạc bình dân
cũng làm các phòng trà vắng bớt khách.
Một số khác cố gắng duy trì phong cách và giữ một tầng lớp
khán giả cho riêng mình như ATB của ca sĩ Ánh Tuyết, 2B của ca sĩ Mỹ
Hạnh với các nhạc phẩm tiền chiến, tình khúc, Carmen với nhạc Flamengo,
Sax ’n’ art của Trần Mạnh Tuấn với nhạc jazz...
Khoảng 2005-2007, nhiều phòng trà nổi tiếng của Thành phố Hồ
Chí Minh như M&Tôi, Tiếng Tờ Đồng, ATB, Đồng Dao đều đóng cửa vì lý
do mặt bằng. Để giải quyết vấn đề này, các phòng trà phải chuyển ra xa
trung tâm hơn để mở cửa trở lại.
Tại Hà Nội, số lượng phòng trà ít hơn và do thị hiếu của khán
giả, các phòng trà ở đây cũng mang phong cách khác với Thành phố Hồ Chí
Minh. Năm 1995, đáp ứng nhu cầu một số khán giả yêu thích nhạc đỏ, ca
sĩ Thanh Hoa mở phòng trà Aladin tại ngõ Hàng Bột. Cuối năm 2004, Thanh
Hoa khai trương phòng trà ca nhạc Aladin 2 tại khách sạn Thắng Lợi.
Ngoài một số ca sĩ của dòng nhạc đỏ như Trọng Tấn, Đăng Dương, Việt
Hoàn... những ca sĩ nhạc trẻ như Khánh Linh, Tùng Dương cũng biểu diễn
ở đây.
Một phòng trà đặc biệt khác là Lý club trên phố Lý Thường
Kiệt. Đây là một phòng trà nhỏ, sang trọng, chủ yếu dành cho nhạc dân
gian truyền thống của miền Bắc như chèo, tuồng, ca trù, chầu văn, xẩm,
quan họ với nhiều khách du lịch. Ngoài ra các vũ trường như New
Century, Hồ Gươm Xanh cũng có các ca sĩ ban nhạc biểu diễn.
Ngoài Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, một số thành phố khác
cũng có các phòng trà ca nhạc như Xưa, Tịnh Lâm Nhi, Carita, Wonders...
ở Huế, Cung Tơ Chiều ở Đà Lạt.